- Trang chủ
- Sao & cung
- Mệnh vô chính diệu tại Dậu
Mệnh vô chính diệu tại Dậu
Mệnh tại Dậu vô chính diệu, tức không có chính tinh nào. Thế này xảy ra khi Tử Vi ở Mão, Thìn và Ngọ. Sách dạy lấy chính tinh ở cung xung chiếu Thiên Di làm sao chính cho Mệnh, nhưng sức yếu đi.
Khi Tử Vi ở Mão
Thiên Di ở Mão có Tử Vi (bình) và Tham Lang (hãm), Mệnh mượn các sao này. Quan Lộc ở Sửu: Thiên Phủ (bình). Tài Bạch ở Tỵ: Thiên Tướng (đắc).
Tam phương có Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng. Đây là bộ sao của sự ổn định và quyền chức: người hợp quản lý, tài chính, làm chủ. Sách đọc là đời vững, càng về sau càng có của.
Ngày sinh để có thế này: năm Giáp (Kim tứ cục) sinh ngày âm 8, 11, 17; năm Ất (Thủy nhị cục) sinh ngày âm 4, 5, 28, 29; năm Bính (Hỏa lục cục) sinh ngày âm 12, 17, 27; năm Đinh (Thổ ngũ cục) sinh ngày âm 10, 14, 22; năm Mậu (Mộc tam cục) sinh ngày âm 6, 8; năm Kỷ (Kim tứ cục) sinh ngày âm 8, 11, 17; năm Canh (Thủy nhị cục) sinh ngày âm 4, 5, 28, 29; năm Tân (Hỏa lục cục) sinh ngày âm 12, 17, 27; năm Nhâm (Thổ ngũ cục) sinh ngày âm 10, 14, 22; năm Quý (Mộc tam cục) sinh ngày âm 6, 8.
Khi Tử Vi ở Thìn
Thiên Di ở Mão có Thiên Cơ (miếu) và Cự Môn (miếu), Mệnh mượn các sao này. Quan Lộc ở Sửu: Thái Dương (đắc) và Thái Âm (đắc). Tài Bạch ở Tỵ: Thiên Lương (hãm).
Tam phương rơi vào nhóm Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương. Sách xưa gọi là cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân", tức người hợp làm công chức, nhân viên văn phòng, nghề chuyên môn có lương đều. Đời ít sóng gió lớn.
Cự Môn và Thái Dương có mặt trong tam phương tứ chính. Sách gọi bộ này là "Cự Nhật", hợp nghề dùng tiếng nói: dạy học, luật, báo chí, ngoại giao. Thái Dương sáng thì cái miệng của Cự Môn được soi sáng, nói có lý.
Ngày sinh để có thế này: năm Giáp (Kim tứ cục) sinh ngày âm 2, 12, 15, 21; năm Ất (Thủy nhị cục) sinh ngày âm 6, 7, 30; năm Bính (Hỏa lục cục) sinh ngày âm 4, 18, 23; năm Đinh (Thổ ngũ cục) sinh ngày âm 3, 15, 19, 27; năm Mậu (Mộc tam cục) sinh ngày âm 1, 9, 11; năm Kỷ (Kim tứ cục) sinh ngày âm 2, 12, 15, 21; năm Canh (Thủy nhị cục) sinh ngày âm 6, 7, 30; năm Tân (Hỏa lục cục) sinh ngày âm 4, 18, 23; năm Nhâm (Thổ ngũ cục) sinh ngày âm 3, 15, 19, 27; năm Quý (Mộc tam cục) sinh ngày âm 1, 9, 11.
Khi Tử Vi ở Ngọ
Thiên Di ở Mão có Thái Dương (vượng) và Thiên Lương (vượng), Mệnh mượn các sao này. Quan Lộc ở Sửu: Thiên Đồng (hãm) và Cự Môn (hãm). Tài Bạch ở Tỵ: Thiên Cơ (vượng).
Tam phương rơi vào nhóm Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương. Sách xưa gọi là cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân", tức người hợp làm công chức, nhân viên văn phòng, nghề chuyên môn có lương đều. Đời ít sóng gió lớn.
Cự Môn và Thái Dương có mặt trong tam phương tứ chính. Sách gọi bộ này là "Cự Nhật", hợp nghề dùng tiếng nói: dạy học, luật, báo chí, ngoại giao. Thái Dương sáng thì cái miệng của Cự Môn được soi sáng, nói có lý.
Ngày sinh để có thế này: năm Giáp (Kim tứ cục) sinh ngày âm 10, 20, 23, 29; năm Ất (Thủy nhị cục) sinh ngày âm 10, 11; năm Bính (Hỏa lục cục) sinh ngày âm 2, 16, 30; năm Đinh (Thổ ngũ cục) sinh ngày âm 1, 13, 25, 29; năm Mậu (Mộc tam cục) sinh ngày âm 7, 15, 17; năm Kỷ (Kim tứ cục) sinh ngày âm 10, 20, 23, 29; năm Canh (Thủy nhị cục) sinh ngày âm 10, 11; năm Tân (Hỏa lục cục) sinh ngày âm 2, 16, 30; năm Nhâm (Thổ ngũ cục) sinh ngày âm 1, 13, 25, 29; năm Quý (Mộc tam cục) sinh ngày âm 7, 15, 17.
Người xưa nói Mệnh vô chính diệu mà gặp Tuần, Triệt hoặc có Thiên Không, Địa Không thì lại hay, gọi là "không vong đắc cách". Trong 259,200 lá số mẫu, Mệnh vô chính diệu tại Dậu chiếm 2,7%. Mệnh ở Dậu khi sinh tháng 1 giờ Tỵ; tháng 2 giờ Ngọ; tháng 3 giờ Mùi; tháng 4 giờ Thân; tháng 5 giờ Dậu; tháng 6 giờ Tuất; tháng 7 giờ Hợi; tháng 8 giờ Tý; tháng 9 giờ Sửu; tháng 10 giờ Dần; tháng 11 giờ Mão; tháng 12 giờ Thìn.