- Trang chủ
- Sao & cung
- Mệnh vô chính diệu tại Thìn
Mệnh vô chính diệu tại Thìn
Mệnh tại Thìn vô chính diệu, tức không có chính tinh nào. Thế này xảy ra khi Tử Vi ở Hợi. Sách dạy lấy chính tinh ở cung xung chiếu Thiên Di làm sao chính cho Mệnh, nhưng sức yếu đi.
Khi Tử Vi ở Hợi
Thiên Di ở Tuất có Thiên Cơ (miếu) và Thiên Lương (miếu), Mệnh mượn các sao này. Quan Lộc ở Thân: Thái Dương (hãm) và Cự Môn (đắc). Tài Bạch ở Tý: không có chính tinh.
Cự Môn và Thái Dương có mặt trong tam phương tứ chính. Sách gọi bộ này là "Cự Nhật", hợp nghề dùng tiếng nói: dạy học, luật, báo chí, ngoại giao. Thái Dương sáng thì cái miệng của Cự Môn được soi sáng, nói có lý.
Ngày sinh để có thế này: năm Giáp (Mộc tam cục) sinh ngày âm 22, 30; năm Ất (Kim tứ cục) sinh ngày âm 1, 30; năm Bính (Thủy nhị cục) sinh ngày âm 20, 21; năm Đinh (Hỏa lục cục) sinh ngày âm 3, 13; năm Mậu (Thổ ngũ cục) sinh ngày âm 2, 26; năm Kỷ (Mộc tam cục) sinh ngày âm 22, 30; năm Canh (Kim tứ cục) sinh ngày âm 1, 30; năm Tân (Thủy nhị cục) sinh ngày âm 20, 21; năm Nhâm (Hỏa lục cục) sinh ngày âm 3, 13; năm Quý (Thổ ngũ cục) sinh ngày âm 2, 26.
Người xưa nói Mệnh vô chính diệu mà gặp Tuần, Triệt hoặc có Thiên Không, Địa Không thì lại hay, gọi là "không vong đắc cách". Trong 259,200 lá số mẫu, Mệnh vô chính diệu tại Thìn chiếm 0,6%. Mệnh ở Thìn khi sinh tháng 1 giờ Tuất; tháng 2 giờ Hợi; tháng 3 giờ Tý; tháng 4 giờ Sửu; tháng 5 giờ Dần; tháng 6 giờ Mão; tháng 7 giờ Thìn; tháng 8 giờ Tỵ; tháng 9 giờ Ngọ; tháng 10 giờ Mùi; tháng 11 giờ Thân; tháng 12 giờ Dậu.